PHÚ YÊN – NHỮNG SỰ KIỆN TỪ 1900 – 2011

Cập nhật lúc:   14:26:41 - 10/01/2020 Số lượt xem:   65 Người đăng:   Đoàn Thị Phước Tâm
NĂM 1900 – CANH TÝ
          Võ Trứ khởi binh và hi sinh. Võ Trứ quê ở Bình Định, được Trần Cao Vân làm cố vấn, ông lập căn cứ ở miền núi huyện Đồng Xuân, dựa vào Phật giáo, tổ chức công cuộc chống Pháp. Việc chuẩn bị chưa hoàn tất thì cơ mưu bại lộ, Võ Trứ phải hành động sớm bằng cuộc tấn công tỉnh lỵ Sông Cầu đêm 14/5/1900. Đội ngũ mới bắt đầu huấn luyện, vũ khí thô sơ, nghĩa quân phải chịu tổn thất nặng nề và bị truy nã, bao vây ráo riết. Cuối tháng 5 Võ Trứ phải ra nộp mình để tránh cho đồng bào khỏi bị khủng bố. Ông và 2 cộng sự bị xử tử bên bờ sông Tam Giang. Do trong lực lượng có nhiều nhà sư làm nòng cốt, vũ khí là rựa cán dài nên trong hồ sơ của Pháp và Nam triều gọi cuộc nổi dậy là giặc thầy chùa, hoặc giặc rựa.
 
NĂM 1906 – BÍNH NGỌ
          Triều Thành Thái. Theo sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, năm này diện tích ruộng đất tại Phú Yên có 81.994 mẫu, so với thời gian trước, lúc lập địa bạ năm 1815 triều Gia Long có 27.963 mẫu, năm 1831 triều Minh Mạng 42.445 mẫu, năm 1899 triều Thành Thái 72.266 mẫu. Có lẽ một phần diện tích khai khẩn canh tác tăng lên, một phần do sự đo đạc khai báo chính xác hơn.
 
NĂM 1918 – MẬU NGỌ
          Triều Khải Định, Khoa thi hương cuối cùng tại trường thi Bình Định, lấy đậu 12 Cử nhân, trong đó có 2 vị người Phú Yên: ông Trần Đình Hiến ở Quy Hậu đậu thứ 4, ông Lê Hoàng Hà ở Long Uyên đậu thứ 5. Suốt thời kỳ Nho học, Phú Yên có 30 vị Cử nhân, khai khoa là ông Lê Đức Ngạn, đậu cao nhất là ông Đặng Trác Văn á khoa, trẻ nhất là ông Lê Hoàng Hà đậu năm 19 tuổi, trước đó cha ông Lê Hoàng Hà là Lê Hoàng Lưu đã đậu Cử nhân, anh em cùng đậu Cử nhân là hai ông Đặng Châu và Đặng Lang.
 
NĂM 1923 – QUÝ HỢI
          Triều Khải Định. Sau khi bãi bỏ thi chữ Hán, trường tiểu học đầu tiên được mở tại tỉnh lỵ Sông Cầu, dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất. Năm 1926 thêm trường tiểu học Tuy Hòa, năm 1933 thêm trường tiểu học Ngân Sơn, năm 1940 thêm hai trường tiểu học La Hai và Bàn Thạch. Ngoài 5 trường tiểu học trên có 2 trường nữ sơ học tại Sông Cầu và Tuy Hòa dành cho nữ học sinh và trên 40 trường công liên hương và công hương tại các phủ huyện, dạy từ lớp Năm đến lớp Ba. Đứng đầu ngành học chánh là quan Kiểm học, giáo chức có các ngạch tư học, trợ giáo và giáo sư. Đến năm 1945 các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận vẫn chưa có trường trung học, học sinh phải ra học ở Qui Nhơn hoặc xa hơn là Huế, Hà Nội.
 
NĂM 1924 – GIÁP TÝ
          Phú Yên bị một cơn bão lụt lớn, gây thiệt hại nặng nề về nhân mạng và của cải, gọi là bão năm Tý. Có một bài vè đến nay còn lưu truyền tường thuật khá tỉ mỉ thảm cảnh ấy: “Phủ trong cho chí huyện ngoài. Khắp bốn phủ huyện thủy tai nghe đều”. Ông Trần Sĩ cũng có một bài viết ngắn, kết luận: “Than ôi! Cây gãy, cầu trôi, nhà sập, người và súc vật chết không chỗ chôn, thật là một cảnh điêu tàn sầu thảm”. Trong hơn nửa đầu thế kỉ XX, sau bão năm Tý, từ năm 1934 đến năm 1970 Phú Yên bị 15 trận bão, riêng năm 1938 có 5 trận bão lớn.
 
NĂM 1926 – BÍNH DẦN
          Theo ghi chép của Công sứ Phú Yên A. Laborde năm này những người dân ở Bình Thạnh huyện Đồng Xuân giết được một con cọp rất lớn. Cọp bị hỏng mất một chân, gọi là ông ba chân, có sức mạnh phi thường và rất hung dữ, từng gây cho con người bao nỗi khiếp đảm. Các quan Nam triều chỉ cho A. Laborde trên vành tai cọp có 17 vết xước, giải thích rằng mỗi khi bắt một người cọp tự cào lên vành tai một lần, vậy cọp ba chân này đã ăn thịt 17 người! Cọp Phú Yên đã được nhắc đến trong câu: Cọp núi Lá, cá sông Hinh, và những chuyện kể chung quanh vùng Truông Bà Viên ở Sơn Hòa, cây gáo quào ở Đồng Xuân. Năm 1933 ông Nguyễn Xu ở Bàn Nhan can đảm cứu người bị cọp vồ được tặng thưởng huy chương danh dự hạng nhì.
 
NĂM 1929 – KỶ TỴ
          Công sứ Phú Yên, đồng thời là nhà nghiên cứu A. Laborde cho đăng trọn trên tạp chí Đô Thành hiếu cổ số quý IV năm 1929 công trình bằng Pháp văn “Tỉnh Phú Yên”, gồm các đề mục: lịch sử, thiên nhiên, tài nguyên địa phương, những hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời nêu ra một số định hướng phát triển khi đập Đồng Cam và đường xe lửa hoàn thành. Đặc biệt ông đã sưu tầm nhiều ca dao tục ngữ Phú Yên, ghi lại nguyên văn tiếng Việt và dịch nghĩa, giải thích bằng Pháp văn. Sau các tập nhất thống chí và dư địa chí bằng chữ Hán do Quốc sử quán biên soạn có phần khái lược, đây là công trình nghiên cứu về tỉnh Phú Yên đầy đủ và chính xác, trước những bài viết lẻ tẻ của các nhà nghiên cứu Việt Nam. A. Laborde đã viết các công trình tương tự về những nơi ông đã làm Công sứ như Quảng Trị, Quảng Ngãi.
 
NĂM 1930 – CANH NGỌ
          Theo sách Địa chí tỉnh Phú Yên, diện tích trồng trọt toàn tỉnh năm này là 53.400ha, so với trước đó, năm 1929, trong công trình của A. Laborde diện tích trồng trọt ở Phú Yên là 47.000ha, trong đó vụ tháng ba 11.000ha, vụ tháng tám là 36.000ha.
Vẫn theo Địa chí tỉnh Phú Yên thì diện tích trồng trọt năm 2000 là 57.690 ha. Diện tích trồng trọt toàn tỉnh thấp nhất vào các năm 1968 là 34.000ha đến năm 1970 chỉ có 30.000ha, do tình trạng chiến tranh.
 
NĂM 1932 – NHÂM THÂN
          Lễ khánh thành đập Đồng Cam tổ chức ngày 7-9-1932 do Toàn quyền Đông Dương Pière Pasquier chủ tọa. Theo báo cáo của Nha Thủy nông Đông Dương, khởi công xây dựng từ năm 1924, toàn bộ hệ thống thủy nông Đồng Cam có 1.200 công trình lớn nhỏ, 165km kênh mương, tưới cho 19.000ha đồng bằng Tuy Hòa. Tổng số công xây dựng là 5.350.000 công, thiết kế và điều hành bởi 64 chuyên viên từ Chánh Kỹ sư đến Kỹ thuật viên.Tổng chi phí là 3.650.000$ bạc Đông Dương. Đập Đồng Cam đã nâng giá trị ruộng “Đồng Gieo” Tuy Hòa từ 20$ đến cao nhất là 50$ một ha lên thấp nhất là 200$ bạc Đông Dương. Từ đây, đồng bằng Tuy Hòa được gọi là vựa lúa Miền Trung.
 
NĂM 1935 - ẤT HỢI
          Theo sách Địa dư tỉnh Phú Yên của Nguyễn Đình Cầm và Trần Sĩ, năm này diện tích tỉnh Phú Yên là 5.800km2, dân số 301.477 người, trong đó 298.600 người Kinh, 1.862 người các sắc tộc thiểu số, 861 Hoa kiều, 123 người Minh hương. 61 người Pháp, 10 người các nước khác. Hoa kiều là những người vẫn giữ quốc tịch Trung Hoa, tự điều hành, quản lý từng cộng đồng mỗi tỉnh theo những quy định của chính quyền Việt Nam, Minh hương là những người gốc Hoa nhập quốc tịch Việt Nam làm công dân Việt Nam.  Người Pháp phần lớn là quan chức cai trị, Hoa kiều và người Minh hương chuyên nghề buôn bán, người các nước khác làm đồn điền và thầu khoán.
 
NĂM 1937 – ĐINH SỬU
          Trạm thực nghiệm lúa Phú Yên thuộc Sở Nông nghiệp Trung Kỳ đặt tại làng Phong Niên nay thuộc xã Hòa Thắng huyện Phú Hòa gieo trồng thử nghiệm 22 giống lúa, căn cứ vào kết quả vụ tháng 3/1938 rút xuống còn 11 giống, năm 1939 thêm 1 giống và cuối cùng đưa ra kết quả các giống lúa khuyến khích trồng trong đồng bằng Tuy Hòa như sau:
          Vụ tháng ba: móng chim, bông vang, áo dà, nhe trắng, nhe bầu, cúc, mận, mắt cu, tàu bầu.
          Vụ tháng tám: cúc, nhe trắng, mắt cu, móng chim, bông vang, mận, tàu bầu, áo dà, nhe bầu.
 
NĂM 1937 – ĐINH SỬU
          Kiểm học Phú Yên Nguyễn Đình Cầm gởi văn thư yâu cầu Hiệu trưởng các trường trong tỉnh sưu tầm và báo cáo một số tư liệu văn hóa dân gian như lễ nghi, phong tục địa phương, việc thờ kính các vị thần, phân loại nhiên thần và nhân thần, bản sao các sắc phong, các bài văn tế, các truyền thuyết v.v… Đây là đợt sưu tầm đầu tiên, đồng bộ,  có hệ thống về sinh hoạt văn hóa dân gian, tư liệu thu được đáng tin cậy, nay vẫn còn lưu trữ, đối chiếu sử dụng.
          Năm này phủ lỵ Tuy An từ An Thổ dời lên Chí Thạnh. Theo một bài viết của ông Bùi Hữu Thứ, Tri phủ Tuy An lúc ấy, phủ đường bắt đầu xây dựng tháng 11.1937, kinh phí là 14.000$ bạc Đông Dương.
          Tại Tuy Hòa, Tri phủ Nguyễn Văn Thơ tổ chức cuộc điền dã khảo sát núi Đá Bia mong giải mã huyền thoại khắc bia đã được sử quan nhà Nguyễn nói đến.
NĂM 1938 – MẬU DẦN
          Theo tư liệu của Nguyễn Đình Cầm và Trần Sĩ toàn tỉnh Phú Yên có 58 chợ, trong đó: phủ Tuy Hòa 16 chợ, phủ Tuy An 23 chợ, huyện Đồng Xuân 16 chợ, huyện Sơn Hòa 3 chợ.
          Đối chiếu với số liệu lúc đầu thế kỉ XX sách Đại Nam nhất thông chí ghi Phú Yên có 26 chợ, trong đó: phủ Tuy Hòa 7 chợ, phủ Tuy An 11 chợ, huyện Đồng Xuân 4 chợ, huyện Sơn Hòa 4 chợ.
          Đến năm 1964 toàn tỉnh có 62 chợ, trong đó: quận Sông Cầu 8 chợ, quận Đồng Xuân 7 chợ, quận Tuy An 15 chợ, quận Tuy Hòa 17 chợ, quận Hiếu Xương 11 chợ, quận Sơn Hòa 3 chợ, quận Phú Đức 1 chợ.
         
NĂM 1939 – Kỷ MÃO
          Tư liệu ghi trong Notes sur le Phú Yên, năm này diện tích trồng trọt toàn tỉnh Phú Yên là 59.100ha và diện tích ruộng lúa là 36.089ha. Ruộng lúa một năm làm 3 vụ. Vụ tháng ba 27.820ha, vụ tháng tám 25,640ha và vụ tháng mười 4.714ha. Vụ tháng ba làm nhiều nhất, 27.820ha, nhưng vẫn chưa hết diện tích ruộng lúa 36.089ha, vì tùy địa thế, khí hậu, nguồn nước tưới… có chỗ làm được vụ này mà vụ khác không làm được vì khô cạn hoặc ngập úng.
          Đối chiếu với thống kê cuối thế kỉ XX, Phú Yên có 124.815ha diện tích đất nông nghiệp, trong đó có 32.710ha đất ruộng trồng lúa, trồng hoa màu, 30.971ha đất nương rẫy.
 
NĂM 1946 – BÍNH TUẤT
          Trường trung học quốc lập đầu tiên của tỉnh Phú Yên được thành lập, mang tên trường trung học Lương Văn Chánh. Đứng đầu ban vận động thành lập là quý ông Trần Suyền, Trần Sĩ. Hiệu trưởng đầu tiên là ông Trần Sĩ, niên khóa 1946-1947 có 2 lớp đệ nhất niên, khai giảng ngày 15/10/1946. Cuối năm, do chiến cuộc trường dời ra Hóc Lá, năm 1947 dời xuống An Thổ, năm 1948 dời lên Đồng Me, nay đều thuộc huyện Tuy An. Năm 1949 trường có đủ các lớp từ đệ nhất niên đến đệ tứ niên. Năm 1950 dời xuống Chợ Sen, đổi là trường cấp 2, mở thêm các lớp sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học, chia lập trường phổ thông cấp 2 Tuy Hòa, năm 1951 lập trường phổ thông cấp 2 Đồng Xuân. Lúc này trường Lương Văn Chánh là trường phổ thông cấp 2 Tuy An.
 
NĂM 1949 – KỶ SỬU
          Kỳ thi Tiểu học cuối cùng được tổ chức vào ngày 16/6/1949. Sau đó, bãi bỏ thi Tiểu học. Năm 1950 kỳ thi Trung học cuối cùng.
          Niên khóa 1949-1950 về trước bậc trung học học 2 sinh ngữ Pháp văn và Anh văn, niên khóa 1950-1951 và học kỳ 1 niên khóa 1952 bỏ Anh văn, chỉ học 1 sinh ngữ Pháp văn, từ học kỳ 2 niên khóa 1952 bỏ Pháp văn, chỉ học Hoa văn.
          Từ năm 1950 cải cách giáo dục, bậc tiểu học đổi là cấp 1 có 4 lớp 1, 2, 3, 4, bậc trung học đổi là cấp 2 có 3 lớp 5, 6, 7, bậc trung học đệ nhị cấp đổi là cấp 3 có 2 lớp 8, 9. Học sinh không thi một văn bằng nào, trình độ được đánh giá qua học bạ. Phú Yên chỉ có các trường phổ thông cấp 2, lên lớp 8 (cấp 3) phải ra Bình Định học. Từ năm 1952 niên khóa không bắc cầu từ giữa năm này sang năm sau mà trọn trong một năm. Học 4 tháng 1, 2, 3, 4, nghỉ mùa 2 tháng 5, 6, rồi học 4 tháng 7, 8, 9, 10 và nghỉ mùa 2 thgáng 11, 12.
 
NĂM 1952 – NHÂM THÌN
          Không quân Pháp thả bom phá hệ thống thủy nông Đồng Cam, đánh sập hai cầu máng Đồng Bò và Suối Cái, không dẫn nước vào ruộng được nữa, việc đào kênh để khắc phục không đem lại hiệu quả cao cho đồng Tuy Hòa. Kinh tế nông nghiệp tại Phú Yên gặp trở ngại lớn, đời sống dân chúng rất khó khăn
          Đến năm 1955 hệ thống thủy nông Đồng Cam được tái thiết, với kinh phí được phê duyệt ngày 24/2/1955 là 50.000.000$ (tiền Viện phát hành Việt Miên Lào), xây dựng lại tất cả các hạng mục bị hư hỏng, xuống cấp, khởi công ngày 17/3/1955, 9 tháng sau hoàn tất, lễ khánh thành tổ chức vào ngày 17/9/1955.
 
NĂM 1955 - ẤT MÙI
          Trường trung học Nguyễn Huệ chính thức thành lập tại thị xã Tuy Hòa từ niên khóa 1955-1956. Niên khóa trước trường hoạt động tại Phú Thứ xã Hòa Bình. Nhưng đến ngày 20/6 năm 1956 Bộ Quốc gia Giáo dục mới ban hành nghị định hợp thức hóa.
          Ban đầu là trường trung học đệ nhất cấp, có các lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, đệ tứ, sau phát triển lên đệ nhị cấp, có các lớp đệ tam, đệ nhị, đậu Chứng chỉ Tú tài phần thứ nhất mới được học lớp đệ nhất để thi lấy văn bằng Tú tài. Tiếp tục phát triển thành trường trung học tổng hợp Nguyễn Huệ có dạy các môn đánh máy chữ, may máy, nữ công, gia chánh. Từ năm 1975 là trường phổ thông trung học Nguyễn Huệ, chỉ có các lớp cấp 3.
Tác giả : Tổng hợp: Trần Thanh Hưng | Nguồn : Nhà nghiên cứu Trần Sĩ Huệ
Thư viện ảnh
Số Lượt Truy Cập
perm_identity Trong ngày: 8
accessibility Hôm qua: 100
account_circle Trong tháng: 954
account_box Trong năm: 68.949
supervisor_account Tổng truy cập: 69.121