PHÚ YÊN – NHỮNG SỰ KIỆN TỪ 1700 – 1900

Cập nhật lúc:   14:24:43 - 10/01/2020 Số lượt xem:   37 Người đăng:   Lê Thị Thanh Kiều
NĂM 1700 – CANH THÌN
          Đời chúa Nguyên Phước Chu. Định sắc cờ cho các thuyền vận tải, ra lệnh cho thuyền các hạt chở thuế, mỗi hạt cói sắc cờ riêng. Thăng Hoa cờ vàng, Điện Bàn cờ xanh, Quảng Ngãi cờ đỏ, Qui Ninh cờ trên đỏ dưới trắng, Phú Yên cờ trên trắng dưới đen, Bình Khang cờ trên xanh dưới đỏ … Thời ấy đường bộ còn nhiều trở ngại. Việc vận chuyển có khối lượng lớn, trọng tải nặng đều dùng đường biển, nên thuyền phải có các sắc cờ khác nhau để dễ nhận biết từng địa phương.
 
NĂM 1720 – CANH TÝ
          Chúa Nguyễn Phước Chu cử Văn chức là Diên Tường nam Nguyễn Khoa Đăng kinh lý chia lập các ấp thuộc từ Quảng Ngãi đến Phú Yên. Hoàn tất công tác này,  Nguyễn Khoa Đăng được thăng tước Diên Tường hầu và sung chức Nội tán, coi cả việc quân, định lại điều lệ. Ông đã có công trừ diệt bọn cướp tại Hồ Xã lâm (truông Nhà Hồ) và khai mở để phá Tam Giang không còn nguy hiểm. Danh tiếng ông được lưu vào ca dao. Trước đó người ta than thở: Thương em anh cũng muốn vô. Sự truông Nhà Hồ sợ phá Tam Giang. Đến lúc này thì: Phá Tam Giang ngày rày đã cạn. Truông Nhà Hồ Nội tán cấm nghiêm.
 
NĂM 1726 – BÍNH NGỌ
          Đời chúa Nguyễn Phước Trú. Cử Ký lục Chính dinh là Nguyễn Đăng Đệ đi tuần xét các phủ, định rõ chức lệ cho các thuộc mới lập. Lúc mở mang bờ cõi, dựng lập phủ huyện, những nơi gần núi, ven biển thì lập làm thuộc. Phủ Phú Yên có 38 thuộc, mỗi thuộc đều lấy những thôn, phường, nậu, man lẻ tẻ họp lại, nhưng chưa có lệ cử chức dịch. Nay chiếu theo dân số nhiều ít, mỗi thuộc đặt chức Cai thuộc, Ký thuộc hoặc Tướng thần. Nậu nguyên nghĩa là đám đông người họp lại làm ruộng, rồi thành một đơn vị hành chánh cơ sở.  Nậu ấy, biến âm thành nẫu, dùng làm nhân vật đại danh tự ngôi thứ ba, số nhiều. Các từ nậu, nẫu trở phổ biến trong người dân Phú Yên từ đó, thành quen thuộc, gần gũi, đến ngày nay vẫn còn và chúng ta thường tự nhận là dân xứ nẫu.
NĂM 1744 – GIÁP TÝ
          Chúa Nguyễn Phước Khoát chính thức lên ngôi, xưng là Võ vương, thay đổi phong tục, y phục, châm chước chế độ các đời định triều phục văn võ. Chính dinh Phú Xuân gọi là Đô Thành. Chia đặt cả cõi làm 12 dinh và trấn Hà Tiên. Ái Tử gọi là dinh Cựu. An Trạch là dinh Quảng Bình.Võ Xá là dinh Lưu Đồn. Thổ Ngõa là dinh Bố Chính. Dinh Quảng Nam gồm Quảng Nam và hai phủ Quảng Ngãi, Qui Nhơn. Phú Yên vẫn là dinh Phú Yên. Dinh Bình Khang gồm Diên Khánh và Bình Khang. Bình Thuận là dinh Bình Thuận. Phước Long là dinh Trấn Biên. Tân Bình là dinh Phiên Trấn. Định Viễn là dinh Long Hồ. Mỗi dinh do Trấn thủ, Cai bạ và Ký lục điều hành. Nhiệm vụ Trấn Biên của Phú Yên chấm dứt từ năm 1653, nay giao lại cho Phước Long và Tân Bình.
 
NĂM 1751 – TÂN MÙI
          Sứ đoàn các bộ tộc Thủy Xá, Hỏa Xá đến Phú Yên để ra Đô Thành tiến cống, dừng nghỉ tại Phước Sơn (Củng Sơn ngày nay) rồi đến lỵ sở dinh Phú Yên. Các quan Phú Yên có nhiệm vụ tạo điều kiện, cấp phương tiện cho họ đi và về. Cống phẩm là các sản vật địa phương như kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực. Tặng phẩm Chúa Nguyễn ban cho là áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt, chén dĩa bằng sứ. Đến thời nhà Nguyễn còn có thêm kim tiền và ngân tiền. Từ đây có lệ, nếu Chúa Nguyễn (sau này là các vua Nguyễn) cho miễn lai kinh thì các quan Phú Yên thay mặt triều đình nhận cống phẩm, ban tặng vật, để họ chỉ làm lễ ở hành cung Phú Yên rồi quay về.
 
NĂM 1753 – QUÝ DẬU
          Theo số liệu do Lê Quý Đôn ghi chép trong sách Phủ Biên tạp lục thì vào năm này, thời Võ vương Nguyễn Phước Khoát, số dân toàn xứ Quảng Nam là 152.370 người, trong đó phải đăng lính là 91.396 người. Số dân phủ Phú Yên 14.648 người, có 3.677 người phải đăng lính. Nên lưu ý là số dân ngày xưa không tính những nguồi già cả, tàn tật, phụ nữ và thiếu niên. Số dân này gồm đủ thành phần sĩ, nông, công, thương. Các trại Cù Mông, Cảnh Dương, Cảnh Hóa, Tân Lập, Tân Dân số thợ rèn, thợ bạc, thợ mộc 1.139 người. Đội thợ chiếu cù du 59 người. Thợ dệt gọi là đội sa vóc. Nghề đãi vàng có 1.205 người, lập thành các thuộc Kim hộ như Sông Ba, Cảnh Dương, Phước Lộ, Tân Dân . . .
 
NĂM 1758 – MẬU DẦN
          Võ vương Nguyễn Phước Khoát cử Nguyễn Khoa Trực làm Tuần phủ Phú Yên đốc thu các thứ thuế. Trong buổi đầu, vì Phú Yên là đất mới khai thác, đẫu đã đặt quan cai trị nhưng thuế má vẫn còn rộng rãi đơn giản. Nay, lãnh thổ đã mở rộng vào Bình Khang, Bình Thuận, Gia Định, nên việc thu thuế bắt đầu theo quy định chung. Người dân Phú Yên đã thi hành đầy đủ bổn phận công dân theo chủ trương của Nhà nước đương thời là đóng thuế và đi lính để góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương.
 
NĂM 1767 – ĐINH HỢI
Theo số liệu trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, tại hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa thuộc phủ Phú Yên số ruộng thực trưng là 128.940 mẫu, thóc thuế là 128,994 thưng 7 cáp. Các loại hoa màu được trồng trọt tương đối phong phú. Nói chung, trên những cánh đồng của Đàng Trong có đến 23 giống lúa tẻ và 26 giống lúa nếp. Đây là điều khác với về sau và hiện nay, các loại lúa nếp luôn luôn ít hơn, quý hiếm hơn lúa tẻ. Sau lúa thì bắp là loại cây lương thực quan trọng. Vẫn theo định nghĩa dân gian, có hai loại bắp: bắp nếp và bắp tẻ. Cả lúa và bắp, nếp có màu trắng hơn, thơm, dẻo hơn, ngon hơn, tẻ có màu sậm hơn, hơi vàng hơn hoặc màu cam, không thơm dẻo bằng. Nhưng các loại lúa bắp tẻ dễ bảo quản hơn, để dành được lâu hơn.
 
NĂM 1771 – TÂN MÃO
          Núi Thạch Bi ở Phú Yên bị sẻ đánh. Đá đen ở núi đều hóa thành  trắng, xa trông như bia đá dựng đứng, sắc như tro trắng, Võ vương Nguyễn Phước Khoát sai quan làm lễ tế đảo. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn miểu tả: “Núi Thạch Bi ở phủ Phú Yên là chỗ tiên triều phân địa giới với Chiêm Thành, núi đến rất xa, tự đầu nguồn liên lạc đến bờ biển. Núi này cao hơn các núi khác. Thánh tông cho tạc đỉnh núi lập bia làm địa giới, lâu ngày dấu chữ đã mòn mất. Tháng chạp năm Tân Mão chợt có một tiếng sét rất to, đá biến thành sắc trắng cả, trông xa một tòa núi đứng sững như đá vôi…”. Theo tư liệu hiện nay núi Đá Bia cao 706m, nằm ở tọa độ 120 55’50” bắc vĩ tuyến và 1090 23’32” đông kinh tuyến, thuộc huyện Đông Hòa, nơi góc đông nam tỉnh Phú Yên.
Tác giả : Tổng hợp: Trần Thanh Hưng | Nguồn : Nhà nghiên cứu Trần Sĩ Huệ
Thư viện ảnh
Số Lượt Truy Cập
perm_identity Trong ngày: 84
accessibility Hôm qua: 128
account_circle Trong tháng: 3.469
account_box Trong năm: 56.953
supervisor_account Tổng truy cập: 57.125